|

Khảo sát địa chất công trình cho xây dựng công trình ngầm

PGS. TS. Đặng Hữu Diệp - Từ trước đến nay ở Việt Nam một số công trình ngầm đã từng được xây dựng trong các lĩnh vực giao thông vận tải, thủy điện, khai thác khoáng sản, nhưng trong lĩnh vực xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị, xây dựng dân dụng và công nghiệp, kho bãi v.v...thì hầu như chưa có.

Chính vì vậy mà ở nước ta những kinh nghiệm về khảo sát, qui hoạch thiết kế, thi công cũng như giám sát thi công trong xây dựng công trình ngầm còn rất hạn chế. Theo đà phát triển đi lên của các hoạt động kinh tế – xã hội của đất nước, xây dựng công trình ngầm với nhiều mục đích công năng khác nhau chắc chắn sẽ là xu thế rõ ràng. Điều đó bắt buộc chúng ta phải quan tâm đến những vấn đề chuyên môn đặc thù liên quan đến xây dựng công trình ngầm, trong đó vấn đề khảo sát địa chất công trình với mục tiêu và nhiệm vụ của nó được đặt ra là thu thập và xác lập hồ sơ dữ liệu về các căn cứ địa chất công trình làm cơ sở cho quy hoạch, thiết kế, thi công và giám sát thi công xây dựng công trình ngầm.



I. Những vấn đề chuyên môn cần nhận thức rõ khi khảo sát địa chất công trình cho xây dựng công trình ngầm.

1. Qui hoạch cho vị trí xây dựng công trình ngầm

Ở Việt Nam tồn tại 2 dạng môi trường đất – đá khác nhau, môi trường đá cứng và đá mềm rời. Qui hoạch chọn vị trí xây dựng công trình ngầm ở 2 dạng môi trường đất – đá khác nhau có những vấn đề chuyên môn khác nhau

PGS-TS Đặng Hữu Diệp, Giám đốc Liên Hiệp Địa Chất Công Trình – Xây Dựng và Môi Trường, 34/31 Cư xá Lữ Gia, P.15, Q.11, Tp. Hồ Chí Minh, ĐT: 08.8654321, Fax: 08.8640613, Mail: ugce@vn.vnn, Mobile: 0903.615.715

ở khu vực thuộc môi trường đá, nếu gặp điều kiện cấu tạo địa chất tốt, ứng suất địa tĩnh không lớn, địa tầng gồm các lớp đá có bề dày lớn và đá có cường độ cao, trong trường hợp như vậy công trình ngầm có thể được thiết kế không có kết cấu khung vỏ bảo vệ giữ ổn định, hoặc nếu cần chỉ thiết kế kết cấu nhẹ. Nhưng nếu gặp trường hợp cấu tạo địa chất kém, có nhiều đứt gãy đi qua, nhiều hệ thống khe nứt và đới vỡ vụn, ứng suất địa tĩnh rất lớn, đá trầm tích với các lớp đá có bề dày nhỏ, đá bị phong hóa nghiêm trọng, chứa nhiều nước v.v..., trong trường hợp như vậy kết cấu khung vỏ chống đỡ của công trình ngầm sẽ chịu một áp lực đá vây quanh rất lớn, nếu kết cấu khung vỏ chống đỡ yếu sẽ có thể xảy ra các sự cố nghiêm trọng như sập lở, biến dạng mất ổn định hoàn toàn.

Trong môi trường đá khô hoặc ít chứa nước, khi thiết kế khung vỏ chống đỡ thường thì đều thiết kế thoát nước bên trong lẫn bên ngoài khung vỏ chống đỡ, do đó cũng không xét đến áp lực thủy tĩnh do nước ngầm gây ra. Tuy nhiên khi chọn vị trí xây dựng công trình ngầm thường phải tránh những khối đá nhiều khe nứt để phòng tránh nước thấm vào công trình ngầm những khi mưa bão hoặc lũ lụt, bất thường. Đối với những trường hợp trong môi trường đá có nước ngầm phong phú, khi thiết kế công trình ngầm bắt buộc phải đặc biệt chú ý đến thiết kế chống thấm bên trong công trình, đồng thời phải xét đến tác dụng của áp lực nước từ bên ngoài, thường giá trị của nó bằng áp lực nước tại điểm có chiều sâu nằm dưới mặt đất của công trình nhân với một hệ số có giá trị bằng 1 hoặc nhỏ hơn 1 tùy mức độ nứt nẻ của đá và tình trạng thoát nước tốt hay kém.

Nếu thiết kế và thi công xây dựng công trình ngầm ở trong môi trường đất mềm rời thì có 2 vấn đề về địa chất công trình phải được đặc biệt chú ý, đó là cường độ chịu lực của đất và mức độ phong phú của nước ngầm. Bao giờ cũng phải chọn địa điểm xây dựng có các lớp đất dày và đất có khả năng chịu lực cao, không có nước ngầm hoặc nước ngầm không phong phú, tránh những vùng có đất bùn yếu, cát chảy, đất lún ướt, nhiều nước ngầm

2. Khảo sát địa chất công trình cho xây dựng công trình ngầm cần đặc biệt chú ý nghiên cứu địa mạo, tức nghiên cứu các đặc trưng hình thái của địa hình và quá trình động lực làm biến đổi địa hình. Bởi vì các đặc trưng địa mao sẽ chi phối việc quy hoạch chọn nơi đặt cửa vào và đường trục của công trình ngầm, cao độ của nó, tiết diện và chiều dài của công trình. Ở trong môi trường đá cửa vào thường được chọn nơi địa tầng có lớp đá dày và đá có cường độ cao, độ dốc địa hình cao, không nhỏ hơn 450, không được chọn những nơi có vách đá cao dễ sạt lở, có hiện tượng trượt, đá đổ, lũ đá. Những nơi ứng suất kiến tạo cao thì đường trục công trình phải chọn theo hướng song song với phương của ứng suất chính trên mặt phẳng nằm ngang. Đường trục công trình phải giao cắt nhau với đường phương của địa tầng hoặc đường phương của đứt gãy thành một góc lớn không nhỏ hơn 400, đồng thời bố trí dọc theo đường đỉnh của khối núi, không được bố trí cắt qua vùng trũng thấp hoặc các khe hẻm. Trường hợp bất khả kháng phải bố trí đường trục công trình đi qua những đơn nguyên địa mạo kém ổn định thì bắt buộc phải có biện pháp gia cố, thoát nước hoặc thiết kế kết cấu chống đỡ.

3. Điều kiện địa chất là một trong những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự ổn định của công trình ngầm. Qui hoạch chọn địa điểm, thiết kế và thi công công trình ngầm phải dựa trên cơ sở đánh giá định tính sự ổn định của công trình. Trong quá trình khảo sát địa chất công trình điều quan trọng chủ yếu là phải dự báo đánh giá sự ổn định của đá vây quanh công trình sau khi đã xây dựng xong, nhằm mục đích cung cấp dữ liệu cho thiết kế và thi công công trình. Có 2 yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự ổn định của công trình, yếu tố địa chất và yếu tố xây dựng gồm thiết kế và thi công. Đối với yếu tố địa chất chú ý đến đặc trưng kết cấu của thể đá nguyên trạng, cường độ chịu lực của thể đá nguyên trạng và hoạt động của nước ngầm.

Thể đá nguyên trạng được hiểu là một khối đá với kích thước bất kỳ còn đang hiện diện trong môi trường tự nhiên của nó. Đặc trưng kết cấu của thể đá nguyên trạng chỉ các bề mặt xuyên cắt trong nó, gồm các bề mặt phân cách địa tầng (các lớp đất-đá), bề mặt khe nứt, bề mặt đứt gãy. Các bề mặt xuyên cắt này làm cho thể đá nguyên trạng mất đi tính nguyên khối (liền khối) ở những mức độ khác nhau. Để đánh giá định lượng mức độ nguyên khối người ta đưa ra hệ số nguyên khối KV, và dựa vào đó đánh giá trạng thái nguyên khối của thể đá nguyên trạng.

Cường độ của thể đá nguyên trạng được đánh giá trên cơ sở dựa vào cường độ kháng nén ở trạng thái bảo hòa của đá kết hợp với đánh giá mức độ nguyên khối của nó.

Phân cấp mức độ cứng rắn của đá dựa theo giá trị cường độ kháng đơn trục ở trạng thái bảo hòa của đá fr.

fr (Mpa)

> 120

120 - 70

70 - 30

30 - 15

15 - 5

<>

Mức độ cứng rắn

Đá cứng

Đá mềm

Rất cứng

Cứng

Tương đối cứng

Tương đối mềm

Mềm

Rất mềm

Phân cấp mức độ nguyên khối của thể đá nguyên trạng dựa theo hệ số nguyên khối KV = (VP/V’P)

KV

> 0,75

0,75 – 0,55

0,55 – 0,35

0,35 – 0,15

<>

Mức độ nguyên khối

Nguyên khối

Tương đối nguyên khối

Tương đối vỡ vụn

Vỡ vụn

Rất vỡ vụn

Ghi chú: VP là tốc độ sóng đàn hồi dọc đo tại hiện trường của đá (m/s)

V’P là tốc độ sóng đàn hồi dọc của mẫu đá khô đo trong phòng thí nghiệm.

Tác động của nước ngầm đối với ổn định của công trình ngầm là gây ra áp lực thủy tĩnh tác dụng lên các kết cấu khung vỏ chống đỡ, làm giảm cường độ chịu lực của đất-đá vây quanh, gây ra biến dạng và mất ổn định cho đất-đá vây quanh; gây ra các hiện tượng dẫn đến sự uy hiếp đối với ổn định của công trình ngầm như hiện tượng phong hóa phát triển, hiện tượng ăn mòn hóa học tạo nên hang động trong đất-đá vây quanh, công trình ngầm trong nền đất có thể xuất hiện áp lực thủy động, từ đó gây ra các hiện tượng cát chảy xói ngầm, đồng thời nước ngầm thấm vào trong không gian của công trình ngầm, gây khó khăn cho thi công và những hoạt động sau này của công trình.

4. Trạng thái ứng suất ban đầu của môi trường đất-đá là một trong những yếu tố cần phải xét đến khi thiết kế và thi công xây dựng công trình ngầm. Trạng thái ứng suất ban đầu gồm có ứng suất địa tĩnh và ứng suất kiến tao, chúng hiện diện trong môi trường đất-đá tự nhiên trước khi công trình được khởi công.

Ứng suất địa tĩnh là do trọng lượng bản thân của đất-đá tạo nên, được đặc trưng bằng 3 giá trị ứng suất chính, một theo phương thẳng đứng sZ và hai theo phương nằm ngang sX sY, trong đó tính sZ, sX sY như sau

, trong đó gi và hi là dung trọng và bề dày của lớp đất-đá thứ i

sX = sY = K0sZ , trong đó K0 là hệ số áp lực hông

Ứng suất kiến tạo gây nên bởi lực kiến tạo phát sinh từ các vận động địa chất nội lực trong vỏ trái đất. Môi trường đất-đá sau khi đã hình thành, trong suốt quá trình tồn tại nó luôn trải qua nhiều kì vận động địa chất như vận động nâng hạ mặt đất, vận động tạo núi. Ưng suất kiến tạo theo phương thẳng đứng và phương nằm ngang đều có giá trị khác nhau, đồng thời trên mặt phẳng nằm ngang thường xuất hiện ứng suất chính lớn nhất và nhỏ nhất, giá trị của chúng không bằng nhau. Một lần xảy ra vận động địa chất sẽ tạo nên ứng suất kiến tạo hiện diện bên trong địa tầng, về sau chúng có thể biến đổi và giải thoát gây nên các hiện tượng địa chất trong công trình ngầm, tạo nên những biến dạng dị thường hoặc hiện tượng phụt mãnh đá, gây mất ổn định của công trình

5. Phương pháp và nội dung khảo sát địa chất công trình cho xây dựng công trình ngầm

Thiết kế và thi công xây dựng công trình ngầm có những vấn đề chuyên môn mang tính đặc thù riêng của nó, vì vậy khảo sát địa chất công trình cho xây dựng công trình ngầm cũng có những mục đích và yêu cầu riêng. Về phương pháp, thường áp dụng đầy đủ các phương pháp như đo vẽ thực địa, khoan đào, thăm dò địa vật lý, thí nghiệm trong phòng và hiện trường, kể cả phương pháp quan trắc hiện trường.

Đo vẽ thực địa nghiên cứu các bề mặt kết cấu, các tổ chức khe nứt, vị trí thế nằm các đứt gãy, kích thước và trạng thái gắn kết và mức độ chứa nước của đứt gãy, của khe nứt, nghiên cứu các đặc trưng địa mạo và các hiện tượng địa chất ngoại sinh, hình thái và sự ổn định của địa hình.

Phương pháp khoan đào kết hợp địa vật lý nghiên cứu đặc trưng địa tầng, sự phân bố của địa tầng và môi trường đất-đá, bề dày của tầng phủ và đới phong hóa, xác minh qui luật của các đứt gãy, các tổ hợp khe nứt, các lớp kẹp mềm yếu và các hang động.

Phương pháp thí nghiệm trong phòng nghiên cứu các tính chất cơ-lý của đất và đá, những tính chất đặc trưng riêng như hệ số hóa mềm của đá, tính chất ăn mòn tạo hang động, tính trương nở, tính lún ướt.

Thí nghiệm hiện trường nghiên cứu các đặc trưng cơ học của thể đá nguyên trạng và của các bề mặt kết cấu, nghiên cứu phạm vi phát triển của đới xáo động trong đá vây quanh và trạng thái ứng suất tự nhiên, các đặc trưng sóng đàn hồi của thể đá nguyên trạng, nghiên cứu địa nhiệt và khả năng chứa khí cháy và khí độc trong môi trường đất-đá.

Phương pháp quan trắc theo dõi diễn biến lâu dài của các hiện tượng biến dạng và ứng suất trong đất-đá vây quanh, áp lực đất-đá và hoạt động của nước ngầm, sự xuất hiện của khí cháy và khí độc.

II. Xây dựng công trình ngầm với đặc điểm địa chất công trình khu vực Thành Phố Hồ Chí Minh

Xét về đặc điểm địa chất kiến trúc, cấu tạo địa tầng, địa mạo và địa chất thủy văn, lãnh thổ khu vực TP. Hồ Chí Minh về đặc điểm địa chất công trình gồm 3 phân vùng khác nhau. Đặc điểm nổi bậc này sẽ là cơ sở để tham khảo trong qui hoạch thiết kế và xây dựng công trình ngầm tại đây.

Vùng A được cấu tạo bởi các loại đá cứng và đá nửa cứng, chúng có cường độ kháng nén khác nhau tùy mức độ phong hóa, biến đổi từ 50 kg/cm2 đến trên 1000 kg/cm2; địa hình núi thấp thuộc kiểu địa mạo xâm thực bào trụi, cao độ từ 40-80 mét, độ dốc 100-500, nước ngầm không phong phú với mực nước trên 10 mét dưới mặt đất, phổ biến các hiện tượng phong hóa và trượt sạt lở.

Vùng B phân bố trên diện tích rộng gồm các quận nội thành, quận Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, Thủ Đức, quận 9; được cấu tạo bởi các lớp đất trầm tích cổ, phần lớn là các lớp đất có cường độ cao, đặc biệt hiện diện tầng đất sét cứng và nửa cứng với bề dày khá lớn, tuy nhiên nó nằm ở độ sâu biến đổi từ 20-50m: địa hình vùng B khá bằng phẳng, thuộc địa mạo đào mùn - tích tụ , thực chất là bề mặt bậc thềm cao của hệ thống sông Sài Gòn và sông Đồng Nai , nằm thấp hơn bề mặt bậc thềm tạo nên vùng A: độ cao địa hình 10m – 25m , độ dốc 0.5-4.0%: trong vùng B hiện diện tầng nước ngầm ở độ sâu 5-10m với lượng nước khá dồi dào và có nguồn bổ cấp khá thường xuyên .Tại đây có thể xảy ra các hiện tượng xói ngầm, lún ướt, cát chảy.

Vùng C được cấu tạo bởi các trầm tích trẻ, hiện đại nhiều nguồn gốc , đất yếu , cường độ chịu lực kém, tạo thành bề mặt bậc thềm thấp nhất của sông Sài Gòn - Đồng Nai và các chi lưu; địa hình không bằng phẳng , tuy nhin bị chia cắt mnh liệt bởi cc chi nhnh dịng chảy ; nước ngầm lộ ngay mặt đất ; thuộc địa tâng vùng C dày 10- 30m nằm phủ trực tiếp bên trên các lớp đất cấu tạo nên vùng B và A..

Ngoài những đặc điểm địa chất công trình nĩi trn , Thnh Phố Hồ Chí Minh đ được hình thnh cch nay đến trăm năm hơn và hiện nay là một thành phố đang trên đà phát triển có mật độ dân cư cao , nhiều khu dân cư và khu thương mại sầm uất với nhiều công trình dn dụng , cơng nghiệp , thương mại giải trí , nhiều công trình kiến trc quy mơ hiện đại mạng lưới hạ tầng kĩ thuật chằng chịt .

Những đặc điểm nêu trên bắt buộc phải được xét đến một cách nghiêm túc khi tiến hành khảo sát quy hoạch thiết kế thi công xây dựng công trình ngầm tại Thành Phố Hồ Chí Minh .Vùng B nêu trên là vùng có những đặc điểm thuận lợi .Trong vùng B hiện diện lớp sét cứng và nửa cứng có cường độ chịu lực cao và bề dày lớn. Điểm thuận lợi này sẽ có ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp thi công , thực thi biện pháp thi công , thực thi biện pháp an toàn , quyết định kinh phí cho dự án và quy trình vận hnh về sau .Tuy nhin trong vng B nu trn lại hiện diện tầng nước ngầm với lượng nước phong phú và nằm cách mặt đất từ 5-140met. Đây là điều bất lợi, sẽ ảnh hưởng đến sự ổn định của công trình v tổn phí ti chính cho cơng trình cũng tăng lên .

Vùng A nếu tuyến công trình ngầm đi qua sẽ gặp nhiều vấn đề địa chất đặc thù như cường độ của đá không đồng nhất, địa tầng sắp xếp không nghiêng dốc, đồng thời hướng đi của địa tầng sẽ ảnh hưởng đến quy hoạch chọn tuyến cho công trình; trong vùng A sẽ bắt gặp các đới khe nứt tập trung, các lớp kẹp đá yếu ,các đứt gãy lớn xuêyn cắt ảnh hưởng đến ổn định công trình; ngồi ra trong vùng A sẽ gặp những đới chứa nước cục bộ với lượng nước lớn bất ngờ vàcó áp lực cục bộ .

Vùng C là vùng đất yếu với bề dày lớp đất kém ổn định tương đối lớn, phân bố trên toàn bộ diện tích của bậc thềm thấp với mạng kênh rạch dày đặc, địa hình bị chia cắt nhiều ; nước ngầm trong vùng C với lượng nước không quá lớn , nhưng được cung cấp thường xuyên .Những đặc điểm này đều gây bất lợi cho việc quy hoạch chọn tuyến , thiết kế và thi công công trình ngầm .Vng C tiếp gip trực tiếp với sơng Si Gịn , nn tuyến cơng trình đi qua sẽ gặp những hiện tượng mất ổn định phức tạp , như công trình bị sập lở , nước ngập vào công trình , p lực thủy tĩnh tăng cao v.v…

III. Những vấn đề cần lưu ý:

Xy dựng cơng trình ngầm thường đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp và nghiêm trọng như ổn định của đất – đá vây quanh , các hiện tượng cơ học và địa chất dị thường , áp lực đất đá biến động , ứng suất địa tĩnh bất thường , tháo khô và chống thấm phức tạp , ảnh hưởng của khí cháy và khí độc .Vì vậy quy hoạch , thiết kế, thi cơng cơng trình ngầm địi hỏi phải chặt chẽ , chất lượng cao ; đi theo đó khảo sát địa chất công trình cũng phải địi hỏi đặc biệt , chủ trì đề án khảo sát phải giao trách nhiệm cho chuyên gia có đầy đủ hiểu biết về kĩ thuật khảo sát , về thí nghiệm cả trong phịng v hiện trường , thí nghiệm cả đất và đá , có kinh nghiệm trong đánh giá và dự báo những ảnh hưởng của các hiện tượng địa chất , dự báo những hiện tượng nguy hiểm có thể xảy ra , biết phối hợp với chuyên gia quy hoạch thiết kế đưa ra những ý kiến gip quy hoạch v thiết kế cơng trình đạt kết quả tốt nhất .Nhiệm vụ khảo sát địa chất công trình cho cơng trình ngầm nn giao cho những đơn vị có đầy đủ năng lực về thiết bị , về phương pháp và kinh nghiệm thực tế .Quan tâm đến kết quả khảo sát địa chất công trình l nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế - kĩ thuật trong xây dựng cơng trình ngầm .Những thất bại ở một số cơng trình xy dựng cĩ phần ngầm ở thnh phố hồ chí minh trong thời gian qua cho thấy những khiếm khuyết

trong khảo sát địa chất, như không đánh giá ảnh hưởng của nước ngầm và không đưa ra những khuyến cáo về giải pháp kỹ thuật giữ ổn định công trình.

Một điều đáng quan tâm nữa là sự kết hợp giữa chuyên gia qui hoạch thiết kế công trình với chuyên gia phụ trách nhiệm vụ khảo sát địa chất công trình. Đây là một nguyên tắc được đưa ra trong các tài liệu chuyên môn về xây dựng công trình nhằm đảm bảo cho phương án khảo sát đạt được hiệu quả cao, bảo đảm kết quả khảo sát thực hiện được mục dích làm cơ sở chắc chắn cho qui hoạch, thiết kế và thi công công trình. Hiện nay ở Việt Nam phổ biến tình trạng nhà đầu tư giao trọn gói khảo sát và thiết kế cho đơn vị thiết kế, từ đó đơn vị thiết kế tự đề ra đề cương khảo sát một cách tiết kiệm nhất nhưng không chú ý đến những yêu cầu kỹ thuật thực tế của công trình xây dựng đối với kết quả khảo sát, từ đó vừa không đảm bảo chắc chắn cho sự ổn định của công trình, vừa có thể gây ra lãng phí lớn trong thiết kế và thi công.

Ngoài khảo sát để phục vụ cho qui hoạch và thiết kế, còn phải chú ý đến khảo sát và thi công, vấn đề này đặc biệt quan trọng đối với xây dựng công trình ngầm. Môi trường địa chất và môi trường đất-đá thường rất không đồng nhất và không đẳng hướng, khi chịu tác động của yếu tố khách quan đối với nó thì nó sẽ biến đổi và thể hiện sự biến đổi đó thông qua các hiện tượng mất ổn định. Kết quả khảo sát bao giờ cũng dựa trên những dữ liệu hạn chế để đưa ra những đánh giá dự báo. Vì vậy mức độ chắc chắn của những dự báo đó là có hạn, cần phải được kiểm chứng bằng những thăm dò dự báo trước thi công. Vì vậy ngoài việc phải tiến hành khảo sát địa chất công trình để phục vụ thi công công trình là điều phải làm, đối với xây dựng công trình ngầm còn phải tiến hành khảo sát trước thi công nhằm kiểm chứng những đánh giá dự báo được nêu ra trong khảo sát ở giai đoạn trước, đồng thời còn dự báo những vấn đề có thể phải đối mặt sắp tới trong thi công.

Với điều kiện địa chất công trình như lãnh thổ của Thành phố Hồ Chí Minh, phần lớn diện tích đều được cấu tạo bởi các đất trầm tích cổ và trầm tích hiện đại, trong khảo sát và đánh giá địa chất công trình cho xây dựng công trình cần đặc biệt chú ý những vấn đề như sau:

1. Về mặt địa chất nên chọn cho công trình đi qua những nơi có nền đất tốt, có lớp đất cường độ cao và ổn định, không chứa nước, địa tầng nằm ngang và đơn giản. Như vậy sẽ đạt được mục đích công trình ổn định, chi phí tài chính cho xây dựng hợp lý, việc thi công cũng đơn giản.

2. Nội dung khảo sát chú ý lập được nhiều mặt cắt địa chất công trình cắt qua nhiều phân đoạn công trình nhằm phản ánh chi tiết cấu tạo đất-đá và các tính chất cơ-lý của chúng, điều kiện địa chất thủy văn; khoảng cách giữa các hố khoan khảo sát 100-200 mét, nhưng sẽ đan dày hơn nếu tuyến công trình đi qua sông, kênh rạch, đứt gãy nhằm làm rõ những nơi địa tầng kém ổn định và đề ra những giải pháp gia cố.

3. Công tác giám sát thi công phải đặc biệt chú ý đặc điểm công trình thi công xây dựng trong điều kiện đô thị, các công trình hiện hữu trên mặt đất sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng. Nếu thi công đào hở thì phải chú ý mái dốc sạt lở sẽ tác dụng đến các công trình hiện hữu nằm gần; nếu thi công phải hạ thấp mực nước ngầm sẽ gây ra hiện tượng lún không đều; nếu thi công đào ngầm có thể gây ra hiện tượng mặt đất sạt lún không đều, các công trình hiện hữu sẽ không an toàn, nếu tồn tại mạng lưới hạ tầng kỹ thuật đô thị thì việc thi công sẽ gặp nhiều trở ngại; nếu tuyến công trình cắt qua sông thì cần phải dựa vào đặc điểm địa hình địa mạo và cấu tạo địa chất cụ thể để chọn tuyến tránh nơi nước sâu, cấu tạo địa chất phức tạp, đặc biệt chú ý đến điều kiện địa chất thủy văn. Một trong những vấn đề cốt lõi trong xây dựng công trình ngầm là chống thấm, bởi vì khi cắt qua sông không thể tiến hành thoát nước, nước từ sông bổ cập vào nên lượng nước sẽ rất lớn. Ngoài ra trong khảo sát cần phải làm rõ địa hình dưới nước bằng các phương pháp khoan và địa vật lý.


Posted by DiepNguyen on 17:03. Filed under . You can follow any responses to this entry through the RSS 2.0. Feel free to leave a response

Blog Archive